Viêm phổi thùy – Mối nguy thời hiện đại

Viêm phổi thùy hiện đang là một bệnh lý về phổi đang có những dấu hiệu tăng số lượng ca mắc bệnh trong vài năm đổ lại đây. Căn bệnh này có thể gây ra những biến chứng gây nguy hiểm trực tiếp tới tính mạng của người bệnh như viêm màng não, áp xe phổi,… Tuy vậy, viêm phổi thùy nếu được điều trị và xử lý kịp thời thì sẽ không còn nguy hiễm nữa hay có thể chữa dứt điểm hoàn toàn bệnh sau 8-9 ngày.

1. Viêm phổi thùy là gì?

Viêm phổi thùy là tình trạng nhu mô ở phổi bị viêm nhiễm, bao gồm viêm ống phế nang, tiểu phế quản tận cùng, viêm túi phế nang và tổ chức mô liên kết.

Trẻ em suy dinh dưỡng, người lớn tuổi, người mắc bệnh những bệnh mãn tính hoặc những người đã từng mắc những bệnh liên quan đến đường hô hấp, những người có tình hình sức khỏe đề kháng kém.

Viêm phổi thùy thường xuyên xuất hiện khi thời tiết thay đổi thất thường, nhất là váo lúc chuyển giao giữa mua đông và mùa xuân ( thời điểm có tỷ lệ người mắc những bệnh về viêm nhiễm đường khuẩn trong đường hô hấp cao nhất Việt Nam). Lưu ý, vào đây là thời điểm nhạy cảm nên bệnh lý này có thể bùng phát trở thành dịch ở những địa điểm có đông người, nhất là trẻ em như nhà trẻ, trường học, các khu chung cư,…

2. Những nguyên nhân gây ra viêm phổi thùy

Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm phổi thùy được chia làm 2 nhóm tác nhân chính.

2.1. Nhóm những vi khuẩn gây viêm như:

  • Phế cầu khuẩn
  • Haemophilus influenzae
  • Legionella pneumophila
  • Mycoplasma pneumonia

Ngoài ra, còn có một số loại vi khuẩn cũng có thể gây ra viêm phổi thùy cùng với những loại vi khuẩn gây viêm phía trên:

  • Liên cầu
  • Tụ cầu vàng
  • Friedlander (Klebsiella pneumoniae)
  • Pseudomonas aeruginosa
  • Các loại vi khuẩn kị khí như Fusobacterium
  • Vi khuẩn thương hàn, dịch hạch…

Virus

Những loại virus gây ra viêm phổi thùy thường là những loại virus gây nên những bệnh dịch nguy hiểm như:

  • Virus đậu mùa
  • Virus sởi
  • Virus Cúm
  • Adenovirus

Dựa theo thống kê từ nhiều nguồn số liệu khác nhau, gần 78% số ca mắc bệnh viêm phổi thùy có nguyên nhân mắc bệnh trực tiếp làvirus.

2.2. Các tác nhân bên ngoài khác

Ngoài những nguyên nhân gây bệnh chính thì một vài nguyên nhân liên quan sau đây cũng có thể khiến bạn mắc viêm phổi thùy như:

  • Nấm: Actinomyces, Blastomyces, Aspergillus…
  • Ký sinh trùng: Amip, giun đũa, sán lá phổi
  • Hóa chất: Xăng, dầu, axit, dịch dạ dày
  • Tia bức xạ, tắc phế quản do u phế quản phổi…

3. Các triệu chứng của viêm phồi thùy

Bệnh lý viêm phổi thùy có hai loại triệu chứng chính là lâm sàng và cận lâm sàng.

Các biểu hiện chính của triệu chứng lâm sàng là:

  • Người bệnh đột ngột sốt ở nhiệt độ cao (39-40 độ ) kèm theo tình rạng rét run, cả cơ thể bị đổ mồ hôi và kích thích vật vã. Sau đó vài tiếng đồng hồ, tình trạng khó thở, môi tím, thở nhanh thậm chí là hôn mê ly bì.
  • Ở trẻ nhỏ, tình trạng sốt còn kèm thoe những cơn co giật.
  • Thường xuyên cảm thấy đau ngực , mỗi khi nằm ngiêng sẽ có cảm nhác đau nhói.
  • Người bệnh thường xuyên ho khan, ho nhẹ nhưng sau một thời gian, khi ho sẽ thấy đờm có mày gỉ sắt ( dầu hiệu đăng trưng của bệnh viêm phổi thùy phế cầu).
  • Rối loạn tiêu hóa, thường có cảm giác đau bung, chứng bụng và buồn nôn.
  • Khi đi khám sẽ nghe thấy tiếng rì rào ở bên phế nang bị tổn thương.

Triệu chứng cận lâm sàng:

  • Hình ảnh chụp Xquang phổi sẽ thấy một đám mờ của một thùy hay một phân thùy phổi có hình dạng một hình tam giác có đáy quay ra ngoài, đỉnh của tam giác thì hướng vào trong rồn phổi

viêm phổi thùy

  • Xét nghiệm máu có số lượng bạch cầu trung tính tăng

4. Biến chứng của bệnh viêm phổi thùy

Viêm phổi thùy nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như:

  • Viêm mủ màng phổi
  • Tràn dịch màng ngoài tim
  • Viêm màng não
  • Viêm màng trong tim
  • Viêm nội nhãn
  • Viêm khớp nhiễm khuẩn
  • Viêm phúc mạc

5. Phương pháp điều trị bệnh viêm phổi thùy

5.1. Điều trị theo triệu chứng

  • Người bệnh cần được sử dụng thuốc hạ sốt khi bị sốt trên 38 độ nằm giảm thiểu các loại biến chứng gây bệnh.
  • Thuốc giãn phế quản: Nếu người bệnh có biểu hiện của có thắt phế quản thì cần sử dụng phephylin phù hợp với thể trạng người bệnh
  • Nếu người bệnh xuất hiện những dấu hiệu ho ra đờm đặc và khó khạc đờm thì cần sử dụng những loại thuốc có tác dụng giảm ho và long đờm Terpin, acemuc, benzoate,…
  • Đảm bảo người bệnh luôn được thông khí và hít thở oxy tùy theo tình trạng của bệnh

 5.2. Điều trị viêm phổi thùy dựa vào nguyên nhân

  • Nếu bệnh nhân bị viêm phổi thùy do vi khuẩnthì cần được điều trị và sử dụng thuốc kháng sinh. Việc người bệnh sử dụng kháng sinh để chữa bệnh cần phải nghe theo những sự hướng dẫn của bác sĩ, không được tự phép sử dụng. Dùng kháng sinh sớm, đúng liều, đúng loại sẽ đạt hiệu quả cao nhất.
  • Viêm phổi thùy do phế cầu và liên cầu:Cần dùng kháng sinh penicillin tiêm bắp. Trường hợp nặng cần tăng liều và truyền tĩnh mạch.
  • Nếu nguyên nhân gây bệnh là do tụ cầu vàng:Cần dùng kháng sinh cefapirin hoặc nhóm aminosid tiêm bắp; nhóm fluoroquinolon như ofloxacine truyền tĩnh mạch hoặc uống.
  • Bên cạnh đó, trường hợp bệnh nhân bị viêm phổi thùy do hóa chất, vi khuẩn kỵ khí,… thì cần dùng kháng sinh cho phù hợp.
  • Trong trường hợp bệnh có những biến chứng thì cần điều trị kéo dài đến khi triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trở về bình thường.

6. Phòng ngừa viêm phổi thùy

Hiện nay, bệnh viêm phổi thùy đã được chữa trị dứt điểm bằng cách sử dụng những loại thuốc kháng sinh mới và áp dụng sự phát triển của khoa học công nghệ vào trong việc chữa bệnh. Tuy nhiên, nếu không có biện pháp phát hiện, phòng ngừa bệnh đúng thì sẽ gây biến chứng nguy hiểm cho người bệnh.

Ngoài phương pháp điều trị viêm phổi thùy trên, bệnh nhân nên chú ý:

  • Giữ ấm cơ thể vào mùa đông
  • Tránh xa môi trường ô nhiễm, nhiều khói bụi
  • Không hút thuốc lá, tiếp xúc với khói thuốc
  • Điều trị tận gốc các đợt nhiễm đường hô hấp trên, các đợt cấp của bệnh phổi mạn tính
  • Duy trì chế độ ăn uống đầy đủ, cân bằng; tiêm vacxin ngừa viêm phổi, …

 

Hy vọng, bài viết sẽ đem lại cho bạn đọc những kiến thức bổ ích.